Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ QUÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ QUÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA QUỐC TẾ TRONG CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ PHONG TỎA SÔNG, BIỂN MIỀN BẮC BẰNG THỦY LÔI VÀ BOM TỪ TRƯỜNG (1965 - 1973)

                       

                                                               




Trung tá, ThS.Nguyễn Văn Trí, Viện Lịch sử quân sự

 Việt Nam 

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng với tự lực cánh sinh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ngừng tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, nhất là của Liên Xô và Trung Quốc, đưa sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc từng bước đi đến thắng lợi. Góp phần tìm hiểu nỗ lực đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế phục vụ chiến đấu chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông, biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường những năm từ 1965 đến 1973.

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2021

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VỚI TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC TRƯỜNG SƠN- ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

 


PGS.TS. Hồ Khang

Bước sang năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển quan trọng, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi, bưng biền đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam. Lúc này, yêu cầu về vũ khí đạn dược của cách mạng miền Nam đang trở nên hết sức cấp thiết; đồng thời, để vai trò, tác dụng và sức mạnh của hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam, rất cần một hệ thống giao thông thông suốt Trước yêu cầu và tình hình đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn chi viện cho cách mạng miền Nam.

TỔNG HÀNH DINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

 PGS.TS. Hồ Khang, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam 

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam mở màn bằng chiến dịch Tây Nguyên mà trận đột phá chiến lược là việc đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Để có được thắng lợi to lớn trong một trận chiến làm xoay chuyển hoàn toàn cục diện chiến trường, tạo cơ sở để Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975, Tổng hành dinh[1] đã có những quyết định và sự chỉ đạo kịp thời, sát sao, linh hoạt, thể hiện tầm nhìn chính xác và bản lĩnh quân sự vững vàng.

CHIẾN THẮNG TUA HAI – TỪ GÓC NHÌN ĐỒNG ĐẠI

 


PGS.TS. Hồ Khang,

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có những trận đánh tuy không quy mô không lớn, song lại mang một sứ mệnh lịch sử hết sức quan trọng, không chỉ làm thay đổi cục diện của một giai đoạn chiến tranh, mà còn trở thành đột phá khẩu, tạo ra bước ngoặt cho toàn bộ cuộc chiến. Chiến thắng Tua Hai là một trận đánh mang tầm vóc như thế, nó vượt qua ý nghĩa thông thường của một trận đánh, mở đầu cho cao trào vũ trang ở miền Đông Nam Bộ.

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

CHIẾN DỊCH HỖ TRỢ KHÔNG QUÂN NIAGARA CỦA MỸ TRONG GIẢI VÂY CHO CỨ ĐIỂM KHE SANH (1968)


                                                                                                                                                                    PGS.TS. Hồ Khang

Trận chiến Khe Sanh đã đi vào lịch sử chiến tranh Việt Nam không chỉ bởi tầm quan trọng chiến lược của nó, mà còn bởi một một lý do hết sức đặc biệt- đây là nơi Mỹ đã phô diễn sức mạnh không quân ở mức cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến nhằm đè bẹp đối phương. Song bất chấp mọi sự hủy diệt tàn bạo của bom đạn và vũ khí tối tân, Quân giải phóng vẫn trụ vững, kiên cường chiến đấu, buộc Mỹ phải rút bỏ căn cứ, chấp nhận một thất bại làm thay đổi cục diện cuộc chiến theo hướng hoàn toàn bất lợi.

NGHỊ QUYẾT 15 (1959) VÀ BƯỚC CHUYỂN VỀ CHẤT CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM


 

PGS.TS. Hồ Khang,

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Năm 1954, Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, những năm đầu tiếp quản miền Bắc giải phóng, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương giữ gìn lực lượng, đấu tranh thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Genève, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng con đường hoà bình. Tuy nhiên, khi nhận thấy khả năng thực hiện các điều khoản của Hiệp định Genève khó thành hiện thực, Đảng LĐVN đã chuyển hướng đấu tranh, bồi dưỡng lực lượng, chuẩn bị cho một tình thế mới- chiến tranh kéo dài và leo thang.

CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 – NAM LÀO 1971: SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG SÁCH LƯỢC “VỪA ĐÁNH, VỪA ĐÀM” CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

 

PGS.TS. Hồ Khang

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Năm 1965, ngay khi Mỹ đưa quân trực vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, cùng với nỗ lực xây dựng sức mạnh về mọi mặt để có thể đương đầu với một đối thủ mạnh nhất hành tinh; đồng thời, nêu cao quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, Đảng Lao động Việt Nam (Đảng LĐVN)  đã tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm. Bắt đầu từ thời điểm đó, trong từng bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng LĐVN  luôn phân tích tình hình, tìm kiếm và nắm bắt thời cơ nhằm tạo ra những bước ngoặt trên mặt trận quân sự, thúc đẩy thế đánh – đàm. Chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào (1971) chính là một sự kiện quan trọng, đưa đấu tranh ngoại giao phát triển lên một bước mới, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự thành công của sách lược “vừa đánh, vừa đàm” mà Đảng LĐVN  đã dày công tính toán, chuẩn bị và dẫn dắt.

TƯỚNG NGUYỄN BÌNH VỚI CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP


 

PGS.TS. Hồ Khang,

 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì cả dân tộc Việt Nam lại buộc phải bước vào một cuộc chiến mới – cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập non trẻ vừa mới giành được. Ngày 23-9-1945, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên ở Nam Bộ, báo hiệu về một cuộc chiến khó khăn, lâu dài và gian khổ. Chỉ 21 ngày sau khi  nước Việt Nam mới ra đời, nhân dân Nam Bộ đã phải đảm lãnh trách nhiệm tiên phong, đi trước trong cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm, song, tình hình Nam Bộ lúc đó lại hết sức phức tạp. Để ổn định tình hình, thống nhất lực lượng, Tướng Nguyễn Bình được lựa chọn và ông đã lên đường với một tinh thần quả cảm và một quyết tâm son sắt quyết chiến đấu để bảo vệ Nam Bộ.

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (1961-1965)


 

PGS.TS. Hồ Khang,

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, để đi tới thắng lợi cuối cùng, Đảng Lao động Việt Nam đã có những chủ trương và sự chỉ đạo linh hoạt nhằm vượt qua những thách thức, khó khăn, tranh thủ tối đa các điều kiện thuận lợi, từng bước xây dựng lực lượng, củng cố sức mạnh toàn diện về mọi mặt. Một trong những minh chứng điển hình, cụ thể của sự linh hoạt ấy là quyết định thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

THẮNG LỢI CỦA PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI – SỰ CÁO CHUNG CÁC KẾ HOẠCH CHIẾN TRANH CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN

 

                                              PGS.TS. Hồ Khang,

 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Trong hai năm 1959-1960, ở miền Nam Việt Nam đã diễn ra một phong trào đấu tranh sục sôi và rộng khắp dưới tên gọi "Đồng khởi" – một phong trào thể hiện ý chí phản kháng mãnh liệt của quân và dân miền Nam đối với chế độ Việt Nam cộng hòa và lực lượng can thiệp Mỹ. Đặc biệt, sức mạnh, quy mô, mức độ và tầm ảnh hưởng, tác động của Đồng khởi đã không chỉ làm lung lay gốc rễ của chế độ Sài Gòn, mà còn góp phần quan trọng làm phá sản các hoạch chiến tranh của Mỹ Sau Hiệp định Geneva, tình hình miền Nam Việt Nam có những thay đổi to lớn. Một chính phủ chống cộng và thân Mỹ ra đời với người đứng đầu là Ngô Đình Diệm -  một người theo đuổi chủ nghĩa quốc gia.                 

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2021

TIẾP VẬN ĐƯỜNG KHÔNG CỦA PHÁP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC ĐÔNG DƯƠNG (1945 - 1954)


Nguyễn Văn Trí*

Lịch sử các cuộc chiến tranh trên bán đảo Đông Dương nửa sau thế kỷ XX cho thấy không phải tới cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ (1954 - 1975) mà từ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp (1945 - 1954) tiếp vận bằng đường không đã được sử dụng rộng rãi. Người Pháp sử dụng không vận trong hầu hết các hoạt động quân sự với qui mô và mức độ khác nhau: Từ đổ quân dù phục vụ tiến công, mở rộng vùng chiếm đóng đến chở quân tiếp viện, chuyển hàng tiếp tế đáp ứng yêu cầu phòng thủ, chiếm giữ vị trí…

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

TIẾP VẬN ĐƯỜNG KHÔNG CỦA MỸ CHO CĂN CỨ KHE SANH NĂM 1968


Ths. Nguyễn Văn Trí,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Tiếp vận đường không được Mỹ sử dụng phổ biến trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Phương thức tiếp vận này giúp quân đội Mỹ tránh được những đòn phục kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mà tiếp vận bộ thường gặp; đồng thời, còn có thể cơ động lực lượng nhanh; qua đó, giành lợi thế chiến thuật để xoay chuyển tình thế trên chiến trường.

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG KHÔNG QUÂN MỸ TRONG TRẬN CHIẾN KHE SANH 1968


PGS.TS. Hồ Khang
Trong chiến tranh Việt Nam, Khe Sanh có tầm quan trọng chiến lược hết sức quan trọng đối với cả hai bên tham chiến, nhất là đối với phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Khe Sanh được Mỹ coi “là cái mỏ neo ở phía tây cho toàn bộ hệ thống phòng thủ phía nam khu phi quân sự và là bàn đạp cho các cuộc hành quân trên bộ để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh"[1]. Để giữ vững Khe Sanh, Mỹ đã đổ vào đây rất nhiều công sức, tiền của vật chất cũng như sức mạnh quân sự; trong đó, đặc biệt phải kể đến các hoạt động của lực lượng không quân.

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

VỀ HAI ĐỢT TIẾN CÔNG SAU TẾT MẬU THÂN 1968 (Trên cơ sở một số tư liệu mới)

PGS.TS. Hồ Khang
Đã 50 năm trôi qua kể từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 nổ ra với hướng tiến công chính là các đô thị trên toàn miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng thời gian tương đối dài đó vẫn không hề làm cho sự kiện lịch sử này bị lãng quên; trái lại, nó vẫn luôn sống động trong ký ức của nhiều người dân Việt Nam, lôi cuốn giới chính trị, quân sự, sử học, báo chí... tìm hiểu, nghiên cứu về nó, nhằm nhận rõ nhiều vấn đề xung quanh sự kiện độc đáo này. Những đợt tấn công sau Tết của Quân giải phóng là một trong những vấn đề như thế và sự mô tả, luận giải về những đợt tấn công này dù khá phong phú nhưng chưa bao giờ là đủ; nó luôn đòi hỏi được phân tích, bình giải một cách kỹ lưỡng hơn nữa, sâu hơn nữa.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng
TÓM TẮT
Chiến tranh nhân dân không là một hiện tượng xa lạ trong lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là một thứ “bảo bối” giúp dân tộc Việt Nam đánh bại những đội quân xâm lược lớn mạnh. Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến lĩnh vực quân sự; tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh mà nội dung cốt lõi là về chiến tranh nhân dân không chỉ có sức mạnh hiện thực trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mà còn được vận dụng trong thời bình, trong xây dựng quân đội, xây dựng hậu phương quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân… Đó là hệ thống quan điểm về quân sự và những vấn đề có liên quan đến quân sự, thể hiện quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, giữa chính trị và quân sự trên nền tảng do dân và vì dân.
Bài viết nhằm làm rõ nội dung tư tưởng về chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn hiện tại.
Từ khóa: Chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, tư tưởng quân sự, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc

Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tư tưởng về chiến tranh nhân dân chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Kế thừa tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa quân sự nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân trở thành nền tảng căn bản trong đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, soi rọi chặng đường 30 năm chiến tranh cách mạng của dân tộc, góp phần phát triển truyền thống quân sự Việt Nam; đồng thời là cơ sở quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân cả lịch sử và hiện tại.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

VẬN DỤNG KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA, HẬU PHƯƠNG CỦA CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA, CHIẾN TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀO XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG QUÂN ĐỘI THỜI KỲ MỚI

PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Căn cứ địa, hậu phương là nơi tích lũy và phát triển lực lượng  về mọi mặt, nơi cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, là nền tảng để phát triển, mở rộng khởi nghĩa, mở rộng kháng chiến. Mọi cuộc khởi nghĩa, mọi cuộc chiến tranh, nếu muốn thắng lợi, thì yếu tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định là xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh. Khởi nghĩa hay chiến tranh cách mạng ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy - từ trong lịch sử cho tới hiện tại, căn cứ địa, hậu phương luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng và to lớn đối với thắng lợi cuối cùng. Quá trình xây dựng căn cứ địa, hậu phương trong lịch sử dân tộc đã để lại những kinh nghiệm quan trọng có thể kế thừa, vận dụng trong xây dựng hậu phương quân đội thời kỳ hiện tại.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2016

NGUYỄN SƠN VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

PGS.TS. Hồ Khang
Nguyễn Sơn là một nhân vật khá đặc biệt không chỉ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, mà còn trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung. Chỉ riêng danh hiệu “Lưỡng quốc tướng quân” cũng đã đủ nói lên một phần sự đặc biệt ấy. Sống và hoạt động cách mạng khá ngắn ngủi nhưng những gì mà ông để lại, những gì mà ông đóng góp cho nhân dân, cho Tổ quốc Việt Nam quả là không hề nhỏ bé chút nào. Nguyễn Sơn thực sự là một người có khí phách, một danh tướng “văn võ toàn tài”.
1- Góp phần củng cố tình hữu nghị Việt - Trung
Nguyễn Sơn có tên thật là Vũ Nguyên Bác, sinh năm 1908 trong một gia đình vốn có truyền thống yêu nước; do đó, ông sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, dấn thân vào con đường cách mạng đầy chông gai và trở thành một trong những chiến sĩ cộng sản đầu tiên gây dựng phong trào cách mạng Việt Nam.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN 1939-1945

PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Bộ Quốc phòng
Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, giành thắng lợi là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên; trong đó, xây dựng lực lượng, tập hợp, tập dượt, tổ chức, dẫn dắt và chuyển hóa lực lượng đó thành sức mạnh quật khởi quấn phăng mọi gông xiềng áp bức là yếu tố vô cùng quan trọng, là nhiệm vụ trọng tâm, bao trùm mọi hoạt động của những người cộng sản Việt Nam. Trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, người ta nhìn thấy sự có mặt của nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau được gắn kết lại bởi một mẫu số chung: Lòng yêu nước.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

BỘ TỔNG THAM MƯU VỚI CÔNG TÁC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1975)

PGS,TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Bộ Quốc phòng
Sau 21 năm chiến đấu, đương đầu với không ít thách thức khó khăn, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã đi đến thắng lợi hoàn toàn. Trong chiến thắng ấy, có sự góp mặt của nhiều lực lượng, nhiều mặt trận và cơ quan khác nhau. Trên bình diện quân sự, bên cạnh quá trình chiến đấu dũng cảm và hy sinh máu xương của từng chiến sĩ, cán bộ lực lượng vũ trang, còn có sự đóng góp quan trọng, to lớn của cơ quan tham mưu chiến lược là Bộ Tổng tham mưu (BTTM), thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam – một cơ quan đã hoàn thành xuất sắc chức năng tham mưu và chức năng chỉ đạo điều hành hoạt động quân sự; trong đó có công tác chi viện chiến trường.

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CÔNG TRÌNH LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM

PGS,TS. Hồ Khang
1. Sự phát triển của ngành nghiên cứu quan hệ quốc tế cho đến đầu thế kỷ XXI có vẻ như đã lý giải và đưa ra những gợi ý đầy đủ nhất về mặt tri thức cho các quốc gia trong lĩnh vực hợp tác và tranh chấp. Vấn đề quân sự nói chung và quốc phòng nói riêng, trong cái nhìn của ngành quan hệ quốc tế, đã giảm lược xuống thành một lựa chọn đối ngoại, hơn là một vấn đề quốc gia có tính chiến lược[1]. Nhưng trong thế kỷ XXI của những kỳ vọng toàn cầu, các quốc gia lại phải đối mặt với cùng lúc hai vấn đề quân sự cấp thiết: 1- Những cuộc đàm phán là không đủ để đảm bảo nền quốc phòng của một quốc gia, nhất là trong bối cảnh các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh không thương thuyết một cách bình đẳng với các quốc gia lân cận có tiềm lực quân sự yếu kém hơn; 2- An ninh chính trị trật tự xã hội của các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, do nhiều nguyên nhân, dễ chịu sự can thiệp từ bên ngoài – do đó, công tác củng cố tính dân tộc tự chủ của một nhà nước phải đi kèm với công tác xây dựng tính nhân dân sâu sắc của quân đội, để đảm bảo cho hoạt động của một xã hội có nền chính trị độc lập, tự quyết.