Hiển thị các bài đăng có nhãn KCCP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KCCP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

TƯỚNG NGUYỄN BÌNH VỚI CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP


 

PGS.TS. Hồ Khang,

 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì cả dân tộc Việt Nam lại buộc phải bước vào một cuộc chiến mới – cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập non trẻ vừa mới giành được. Ngày 23-9-1945, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên ở Nam Bộ, báo hiệu về một cuộc chiến khó khăn, lâu dài và gian khổ. Chỉ 21 ngày sau khi  nước Việt Nam mới ra đời, nhân dân Nam Bộ đã phải đảm lãnh trách nhiệm tiên phong, đi trước trong cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm, song, tình hình Nam Bộ lúc đó lại hết sức phức tạp. Để ổn định tình hình, thống nhất lực lượng, Tướng Nguyễn Bình được lựa chọn và ông đã lên đường với một tinh thần quả cảm và một quyết tâm son sắt quyết chiến đấu để bảo vệ Nam Bộ.

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2021

TIẾP VẬN ĐƯỜNG KHÔNG CỦA PHÁP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC ĐÔNG DƯƠNG (1945 - 1954)


Nguyễn Văn Trí*

Lịch sử các cuộc chiến tranh trên bán đảo Đông Dương nửa sau thế kỷ XX cho thấy không phải tới cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ (1954 - 1975) mà từ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp (1945 - 1954) tiếp vận bằng đường không đã được sử dụng rộng rãi. Người Pháp sử dụng không vận trong hầu hết các hoạt động quân sự với qui mô và mức độ khác nhau: Từ đổ quân dù phục vụ tiến công, mở rộng vùng chiếm đóng đến chở quân tiếp viện, chuyển hàng tiếp tế đáp ứng yêu cầu phòng thủ, chiếm giữ vị trí…

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TRONG VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN 1939-1945

PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Bộ Quốc phòng
Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, giành thắng lợi là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên; trong đó, xây dựng lực lượng, tập hợp, tập dượt, tổ chức, dẫn dắt và chuyển hóa lực lượng đó thành sức mạnh quật khởi quấn phăng mọi gông xiềng áp bức là yếu tố vô cùng quan trọng, là nhiệm vụ trọng tâm, bao trùm mọi hoạt động của những người cộng sản Việt Nam. Trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, người ta nhìn thấy sự có mặt của nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau được gắn kết lại bởi một mẫu số chung: Lòng yêu nước.

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO VIỆT NAM VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945


PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
 Bộ Quốc phòng
Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử đặc biệt, có sức lan tỏa, có tầm ảnh hưởng sâu rộng vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc. Đi đến thắng lợi ấy, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua những chặng đường vô cùng gian khó với bao hy sinh xương máu. Vượt lên từ kiếp đoạ đày, áp bức ngót trăm năm, vùng dậy làm cuộc đổi đời vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã viết nên một trang sử mới – trang sử của những thay đổi lớn lao trên nền tảng đại đoàn kết và chủ nghĩa dân tộc chân chính.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

VIỆT NAM TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1945-1975)

PGS, TS  Hồ Khang
Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ các quyền dân tộc thiêng liêng, trong cuộc đối đầu lịch sử với những đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần, có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế. Thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc không tách rời sự đồng tình, cổ vũ, giúp đỡ của các lực lượng dân chủ, tiến bộ, hòa bình trên thế giới, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN.

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

CÁC NƯỚC LỚN VỚI HỘI NGHỊ GENÈVE (1954)

PGS,TS. Hồ Khang
Những năm 1950-1954, nền chính trị toàn cầu diễn ra những thay đổi đòi hỏi những thực thể của nó phải có chiến lược thích ứng. Sau một chặng đường “ngụp lặn” trong cuộc Chiến tranh Lạnh, các quốc gia của hai cực Đông – Tây đều nghiêng về một xu hướng mới – xu hướng hòa hoãn. Vấn đề đặt ra đối với các nước lớn là cần phải giảm thiểu căng thẳng trong tình hình thế giới, giải quyết các xung đột ở các khu vực khác nhau trên thế giới, trong đó có châu Á.
1- Trong tình hình đó, ngày 28-9-1953, Liên Xô kêu gọi các nước có liên quan tổ chức một hội nghị quốc tế, xem xét, đề xuất các biện pháp giảm thiểu căng thẳng trong tình hình thế giới, giải quyết vấn đề chiến tranh – hòa bình ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. 

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH GENÈVE (1954)

PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự VN
1. Cục diện đối đầu Đông – Tây và chính sách đối ngoại của Trung Quốc   
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ đồng minh bất đắc dĩ  Xô - Mỹ nhanh chóng tan vỡ, hai nước chuyển sang trạng thái đối đầu quyết liệt, cạnh tranh sức mạnh ở cả vũ đài trung tâm lẫn ở vùng ngoại vi. Bước ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước tư bản cộng lại. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có những kế hoạch to lớn trên con đường trở thành siêu cường có khả năng định hướng toàn cầu. Mùng 6-4-1946, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới”[1]. Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như “sự thống trị lục địa bởi một quốc gia duy nhất và thù địch với Mỹ, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ”[2]

Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

TRUNG QUỐC GIÚP ĐỠ VIỆT NAM VỀ QUÂN SỰ NHỮNG NĂM 1950-1954

PGS.TS Hồ Khang
Viện lịch sử Quân sự Việt Nam
Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong điều kiện bị bao vây bốn bề, nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mạnh là chính”; “muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình”[1]; đồng thời, hết sức coi trọng liên minh, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ năm 1950, thế lực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có những biến đổi tích cực, tạo điều kiện cho Việt Nam tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Từ thời điểm đó, Việt Nam đẩy mạnh vận động quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc, nhất là về quân sự, nỗ lực đưa cuộc kháng chiến đến đích cuối cùng.

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

TRUNG QUỐC VỚI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Điện Biên Phủ - địa danh đã đi vào lịch sử với ý nghĩa là biểu tượng chiến thắng của các dân tộc bị áp bức trước chủ nghĩa thực dân cũ. 60 năm trôi qua sau sự kiện “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày nào, song đối với giới nghiên cứu, nhiều chiều cạnh của kỳ tích mang tên “Điện Biên Phủ”, trong đó có sự đóng góp, vai trò của Trung Quốc, vẫn tiếp tục cần được chiếu rọi, nghiên cứu. Trong tham luận này, chúng tôi đặt mục tiêu làm sáng tỏ sự ủng hộ của Trung Quốc trên hai phương diện: Viện trợ vật chất và giúp đỡ bồi dưỡng tác chiến.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

TÂY BẮC - ĐIỆN BIÊN - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM


Bản đồ Tây Bắc
PGS. TS. Hồ Khang
Đại tá Nguyễn Huy Cầu
 Sau những năm dài kháng chiến, đến 1953 – 1954, miền Tây Bắc điệp trùng đồi núi của Tổ quốc trở thành chiến trường chính trong cuộc chiến tranh giữa thực dân Pháp, can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Tại đây, quân dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, đánh sập ý chí xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng tại sao đến mùa khô 1953 – 1954, Tây Bắc mới trở thành nơi định đoạt số phận cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất? Để lý giải, phải xem xét diễn biến tình hình liên quan tới cuộc chiến cũng như sự chỉ đạo tầm chiến lược của Đảng LĐVN đối với toàn cục và đối với chiến trường Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

KHU KHÁNG CHIẾN HẠ LÀO: BIỂU TƯỢNG SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ VÀ TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 -1954)



PGS, TS  Hồ Khang
                                         Viện Lịch sử quân sự
Trong lịch sử phát triển của thế giới đương đại, hiếm thấy có những quốc gia, dân tộc nào có mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt như Việt Nam và Lào. Từ lúc phôi thai cho tới nay, cách mạng hai nước luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Trải qua năm tháng, sự đoàn kết của nhân dân hai nước đã trở thành một quy luật tất yếu của lịch sử, tạo thành sức mạnh vô địch, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, đem lại độc lập tự do cho nhân dân mỗi nước. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, quân và dân Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các chiến trường Lào, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu và chiến thắng, viết nên “mối tình đoàn kết đặc biệt”; trong đó, việc cùng nhau xây dựng, phát triển Khu kháng chiến Hạ Lào(1) là một minh chứng điển hình.