Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO VIỆT NAM VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945


PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
 Bộ Quốc phòng
Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử đặc biệt, có sức lan tỏa, có tầm ảnh hưởng sâu rộng vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc. Đi đến thắng lợi ấy, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua những chặng đường vô cùng gian khó với bao hy sinh xương máu. Vượt lên từ kiếp đoạ đày, áp bức ngót trăm năm, vùng dậy làm cuộc đổi đời vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã viết nên một trang sử mới – trang sử của những thay đổi lớn lao trên nền tảng đại đoàn kết và chủ nghĩa dân tộc chân chính.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

BỘ TỔNG THAM MƯU VỚI CÔNG TÁC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1975)

PGS,TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Bộ Quốc phòng
Sau 21 năm chiến đấu, đương đầu với không ít thách thức khó khăn, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã đi đến thắng lợi hoàn toàn. Trong chiến thắng ấy, có sự góp mặt của nhiều lực lượng, nhiều mặt trận và cơ quan khác nhau. Trên bình diện quân sự, bên cạnh quá trình chiến đấu dũng cảm và hy sinh máu xương của từng chiến sĩ, cán bộ lực lượng vũ trang, còn có sự đóng góp quan trọng, to lớn của cơ quan tham mưu chiến lược là Bộ Tổng tham mưu (BTTM), thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam – một cơ quan đã hoàn thành xuất sắc chức năng tham mưu và chức năng chỉ đạo điều hành hoạt động quân sự; trong đó có công tác chi viện chiến trường.

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CÔNG TRÌNH LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ VIỆT NAM

PGS,TS. Hồ Khang
1. Sự phát triển của ngành nghiên cứu quan hệ quốc tế cho đến đầu thế kỷ XXI có vẻ như đã lý giải và đưa ra những gợi ý đầy đủ nhất về mặt tri thức cho các quốc gia trong lĩnh vực hợp tác và tranh chấp. Vấn đề quân sự nói chung và quốc phòng nói riêng, trong cái nhìn của ngành quan hệ quốc tế, đã giảm lược xuống thành một lựa chọn đối ngoại, hơn là một vấn đề quốc gia có tính chiến lược[1]. Nhưng trong thế kỷ XXI của những kỳ vọng toàn cầu, các quốc gia lại phải đối mặt với cùng lúc hai vấn đề quân sự cấp thiết: 1- Những cuộc đàm phán là không đủ để đảm bảo nền quốc phòng của một quốc gia, nhất là trong bối cảnh các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh không thương thuyết một cách bình đẳng với các quốc gia lân cận có tiềm lực quân sự yếu kém hơn; 2- An ninh chính trị trật tự xã hội của các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, do nhiều nguyên nhân, dễ chịu sự can thiệp từ bên ngoài – do đó, công tác củng cố tính dân tộc tự chủ của một nhà nước phải đi kèm với công tác xây dựng tính nhân dân sâu sắc của quân đội, để đảm bảo cho hoạt động của một xã hội có nền chính trị độc lập, tự quyết.

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

LỰC LƯỢNG THỨ BA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1969-1975)

PGS.TS. Hồ Khang,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm có sự tham gia, cống hiến, hi sinh xương máu của đông đảo nhân dân cả nước thuộc nhiều thành phần, nhiều giai cấp và lực lượng khác nhau. Trên tinh thần độc lập, hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhiều tổ chức, đoàn thể, tôn giáo, các cá nhân yêu nước… hợp thành một lực lượng có tên gọi “lực lượng thứ ba”, đấu tranh ngay trong lòng Sài Gòn và ở nhiều đô thị lớn của miền Nam Việt Nam.
Với các hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng, phạm vi hoạt động rộng rãi, thành phần đông đảo, phong trào đấu tranh của lực lượng thứ ba đã có những ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình sự kiện ở miền Nam Việt Nam lúc đó.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

KẾT HỢP SỨC MẠNH NGOẠI GIAO HAI MIỀN NAM - BẮC VIỆT NAM VÌ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1969-1973)

PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là kết quả chiến đấu gian khổ, hy sinh của những người Việt Nam yêu nước trên các lĩnh vực, các mặt trận khác nhau. Nêu cao ngọn cờ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; đồng thời, nhận thức "quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”, Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đấu tranh ngoại giao, coi đó là mặt trận có ý nghĩa chiến lược, phối kết hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, chính trị, nhằm nâng  cao sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến.
Để phát huy cao nhất hiệu quả của mặt trận ngoại giao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã sáng tạo ra một hình thức đấu tranh ngoại giao chưa từng gặp trong lịch sử – kết hợp hoạt động ngoại giao hai miền Nam – Bắc, hình thành thế trận ngoại giao “tuy hai mà một, tuy một mà hai”.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

VIỆT NAM TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1945-1975)

PGS, TS  Hồ Khang
Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ các quyền dân tộc thiêng liêng, trong cuộc đối đầu lịch sử với những đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần, có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế. Thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc không tách rời sự đồng tình, cổ vũ, giúp đỡ của các lực lượng dân chủ, tiến bộ, hòa bình trên thế giới, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM GIÚP ĐỠ NHÂN DÂN LÀO XÂY DỰNG CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN HẠ LÀO

PGS,TS. Hồ Khang
Trong lịch sử phát triển của thế giới đương đại, hiếm có những quốc gia, dân tộc có mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt như Việt Nam và Lào. Từ lúc phôi thai cho tới nay, cách mạng hai nước luôn gắn bó chặt chẽ. Trải qua năm tháng, tình đoàn kết của nhân dân hai nước đã trở thành một quy luật tất yếu. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các chiến trường Lào, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu, viết nên “mối tình đặc biệt Việt - Lào”, mà căn cứ kháng chiến Hạ Lào[1] là một trong những dấu ấn như thế.

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG QUÂN ĐỘI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC VÀ TRONG 30 NĂM ĐỔI MỚI

     PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
         1- Một số khái niệm
Hậu phương, hiểu theo nghĩa hẹp, là nơi đối xứng với tuyền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực đáp ứng nhu cầu của của lực lượng vũ trang ngoài tuyền tuyến. Hậu phương là nơi huy động sức người, sức của cho tuyền tuyến. Một cách khái quát, hậu phương chính là “những vùng an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá-xã hội… phục vụ cho kháng chiến và chiến tranh cách mạng”1. Hậu phương chiến tranh có các cấp độ và hình thức khác nhau, có hậu phương chiến lược, có hậu phương tại chỗ, lại có cả hậu phương lòng dân.

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

SỰ TAN RÃ MANDALA Ở ĐẠI CỒ VIỆT – LÊ LONG ĐĨNH VÀ PHẬT GIÁO

Hồ Khang- Hồ Hoàng Thái
1. Trật tự Mandala, một diễn giải xã hội Đông Nam Á
Các nhà nước Đông Nam Á cổ, những Nhà nước đã xuất hiện rồi biến mất - những huyền thoại xã hội được ghi chép tỉ mỉ trong các bi kí, đến nay vẫn còn là các hồ sơ lịch sử thú vị để bàn luận. Người ta có thể mô tả lại chúng bằng toàn bộ vẻ rạng rỡ, sự trù phú, đầy huyền tích bằng một ấn tượng thực chứng sử học sinh động thông qua những bản văn ghi chép (mà không cần viện dẫn nhiều đến phép phê phán sử liệu một cách nghiêm khắc?). Thế giới Đông Nam Á, qua đó, được khắc họa trong ấn tượng sử gia như một bức tranh sặc sỡ và sinh động, đầy những đoàn người ngược xuôi cùng dòng hàng hóa tấp nập. Sự thể ấy đã xua đi phần nào cái cảm quan nghèo nàn về xứ thuộc địa hèn kém, về những xã hội bế tắc tự cấp chôn mình trong một thứ chủ nghĩa bộ lạc khép kín.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

NHẬT BẢN: TỪ NỀN NGOẠI GIAO ĐẾ QUỐC ĐẾN HIẾN PHÁP 1947 VÀ SỰ DIỄN GIẢI LẠI ĐIỀU 9 TRONG BỐI CẢNH MỚI

Hồ Khang – Hồ Hoàng Thái
Cuối thế chiến II, sự kiện Quan Đông và cuộc ném bom nguyên tử vào hai thành phố Nhật Bản dường như đã “nhấn chìm” Đế quốc Thái dương vào biển sâu – thời đại của những đế chế biển cũng nhường chỗ cho thời đại của các siêu cường có quy mô “tiểu lục địa”. Nhưng xứ sở sinh thành của thuyết Đại Đông Á không dễ trở thành một đảo quốc tăm tối: Nhật Bản với cuộc cách mạng công nghiệp “thần kỳ” đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới. Sự phát triển kinh tế hòa bình của Nhật Bản khi đó xuất hiện như một lời phủ nhận chính sách ngoại giao đế quốc chủ nghĩa trên toàn thế giới, như thế sự phát triển kinh tế hẳn không còn cần đến sức mạnh quân sự to lớn bảo hộ, còn vị thế và an ninh quốc gia không nhất thiết phải khẳng định qua bạo lực quân sự. Đó cũng là xu hướng mới của kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần vào “hiện tượng toàn cầu hóa”.