Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự - ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự - ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG ĐOÀN KẾT CỨU NƯỚC CAMPUCHIA-YẾU TỐ GÓP PHẦN LÀM NÊN CHIẾN THẮNG CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG


 

PGS.TS. Hồ Khang

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng uống chung dòng nước ngọt ngào của sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam và Campuchia sớm có mối quan hệ mật thiết, máu thịt. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, với đặc thù Đông Dương là một chiến trường, nhân dân hai nước Việt Nam, Campuchia đã sát cánh cùng nhau chung một chiến hào để bảo vệ nền độc lập vô giá. Tuy nhiên, từ sau năm 1975, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan khác nhau, hai dân tộc bước vào một ngã rẽ không mong muốn.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

KẾT HỢP SỨC MẠNH NGOẠI GIAO HAI MIỀN NAM - BẮC VIỆT NAM VÌ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1969-1973)

PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là kết quả chiến đấu gian khổ, hy sinh của những người Việt Nam yêu nước trên các lĩnh vực, các mặt trận khác nhau. Nêu cao ngọn cờ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; đồng thời, nhận thức "quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”, Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đấu tranh ngoại giao, coi đó là mặt trận có ý nghĩa chiến lược, phối kết hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, chính trị, nhằm nâng  cao sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến.
Để phát huy cao nhất hiệu quả của mặt trận ngoại giao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã sáng tạo ra một hình thức đấu tranh ngoại giao chưa từng gặp trong lịch sử – kết hợp hoạt động ngoại giao hai miền Nam – Bắc, hình thành thế trận ngoại giao “tuy hai mà một, tuy một mà hai”.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM GIÚP ĐỠ NHÂN DÂN LÀO XÂY DỰNG CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN HẠ LÀO

PGS,TS. Hồ Khang
Trong lịch sử phát triển của thế giới đương đại, hiếm có những quốc gia, dân tộc có mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt như Việt Nam và Lào. Từ lúc phôi thai cho tới nay, cách mạng hai nước luôn gắn bó chặt chẽ. Trải qua năm tháng, tình đoàn kết của nhân dân hai nước đã trở thành một quy luật tất yếu. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các chiến trường Lào, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu, viết nên “mối tình đặc biệt Việt - Lào”, mà căn cứ kháng chiến Hạ Lào[1] là một trong những dấu ấn như thế.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

NHẬT BẢN: TỪ NỀN NGOẠI GIAO ĐẾ QUỐC ĐẾN HIẾN PHÁP 1947 VÀ SỰ DIỄN GIẢI LẠI ĐIỀU 9 TRONG BỐI CẢNH MỚI

Hồ Khang – Hồ Hoàng Thái
Cuối thế chiến II, sự kiện Quan Đông và cuộc ném bom nguyên tử vào hai thành phố Nhật Bản dường như đã “nhấn chìm” Đế quốc Thái dương vào biển sâu – thời đại của những đế chế biển cũng nhường chỗ cho thời đại của các siêu cường có quy mô “tiểu lục địa”. Nhưng xứ sở sinh thành của thuyết Đại Đông Á không dễ trở thành một đảo quốc tăm tối: Nhật Bản với cuộc cách mạng công nghiệp “thần kỳ” đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới. Sự phát triển kinh tế hòa bình của Nhật Bản khi đó xuất hiện như một lời phủ nhận chính sách ngoại giao đế quốc chủ nghĩa trên toàn thế giới, như thế sự phát triển kinh tế hẳn không còn cần đến sức mạnh quân sự to lớn bảo hộ, còn vị thế và an ninh quốc gia không nhất thiết phải khẳng định qua bạo lực quân sự. Đó cũng là xu hướng mới của kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần vào “hiện tượng toàn cầu hóa”.