Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

VIỆT NAM TRANH THỦ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1945-1975)

PGS, TS  Hồ Khang
Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ các quyền dân tộc thiêng liêng, trong cuộc đối đầu lịch sử với những đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần, có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế. Thắng lợi của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc không tách rời sự đồng tình, cổ vũ, giúp đỡ của các lực lượng dân chủ, tiến bộ, hòa bình trên thế giới, đặc biệt là của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM GIÚP ĐỠ NHÂN DÂN LÀO XÂY DỰNG CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN HẠ LÀO

PGS,TS. Hồ Khang
Trong lịch sử phát triển của thế giới đương đại, hiếm có những quốc gia, dân tộc có mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt như Việt Nam và Lào. Từ lúc phôi thai cho tới nay, cách mạng hai nước luôn gắn bó chặt chẽ. Trải qua năm tháng, tình đoàn kết của nhân dân hai nước đã trở thành một quy luật tất yếu. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các chiến trường Lào, cùng nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu, viết nên “mối tình đặc biệt Việt - Lào”, mà căn cứ kháng chiến Hạ Lào[1] là một trong những dấu ấn như thế.

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG QUÂN ĐỘI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC VÀ TRONG 30 NĂM ĐỔI MỚI

     PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
         1- Một số khái niệm
Hậu phương, hiểu theo nghĩa hẹp, là nơi đối xứng với tuyền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực đáp ứng nhu cầu của của lực lượng vũ trang ngoài tuyền tuyến. Hậu phương là nơi huy động sức người, sức của cho tuyền tuyến. Một cách khái quát, hậu phương chính là “những vùng an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá-xã hội… phục vụ cho kháng chiến và chiến tranh cách mạng”1. Hậu phương chiến tranh có các cấp độ và hình thức khác nhau, có hậu phương chiến lược, có hậu phương tại chỗ, lại có cả hậu phương lòng dân.

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

SỰ TAN RÃ MANDALA Ở ĐẠI CỒ VIỆT – LÊ LONG ĐĨNH VÀ PHẬT GIÁO

Hồ Khang- Hồ Hoàng Thái
1. Trật tự Mandala, một diễn giải xã hội Đông Nam Á
Các nhà nước Đông Nam Á cổ, những Nhà nước đã xuất hiện rồi biến mất - những huyền thoại xã hội được ghi chép tỉ mỉ trong các bi kí, đến nay vẫn còn là các hồ sơ lịch sử thú vị để bàn luận. Người ta có thể mô tả lại chúng bằng toàn bộ vẻ rạng rỡ, sự trù phú, đầy huyền tích bằng một ấn tượng thực chứng sử học sinh động thông qua những bản văn ghi chép (mà không cần viện dẫn nhiều đến phép phê phán sử liệu một cách nghiêm khắc?). Thế giới Đông Nam Á, qua đó, được khắc họa trong ấn tượng sử gia như một bức tranh sặc sỡ và sinh động, đầy những đoàn người ngược xuôi cùng dòng hàng hóa tấp nập. Sự thể ấy đã xua đi phần nào cái cảm quan nghèo nàn về xứ thuộc địa hèn kém, về những xã hội bế tắc tự cấp chôn mình trong một thứ chủ nghĩa bộ lạc khép kín.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

NHẬT BẢN: TỪ NỀN NGOẠI GIAO ĐẾ QUỐC ĐẾN HIẾN PHÁP 1947 VÀ SỰ DIỄN GIẢI LẠI ĐIỀU 9 TRONG BỐI CẢNH MỚI

Hồ Khang – Hồ Hoàng Thái
Cuối thế chiến II, sự kiện Quan Đông và cuộc ném bom nguyên tử vào hai thành phố Nhật Bản dường như đã “nhấn chìm” Đế quốc Thái dương vào biển sâu – thời đại của những đế chế biển cũng nhường chỗ cho thời đại của các siêu cường có quy mô “tiểu lục địa”. Nhưng xứ sở sinh thành của thuyết Đại Đông Á không dễ trở thành một đảo quốc tăm tối: Nhật Bản với cuộc cách mạng công nghiệp “thần kỳ” đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới. Sự phát triển kinh tế hòa bình của Nhật Bản khi đó xuất hiện như một lời phủ nhận chính sách ngoại giao đế quốc chủ nghĩa trên toàn thế giới, như thế sự phát triển kinh tế hẳn không còn cần đến sức mạnh quân sự to lớn bảo hộ, còn vị thế và an ninh quốc gia không nhất thiết phải khẳng định qua bạo lực quân sự. Đó cũng là xu hướng mới của kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, góp phần vào “hiện tượng toàn cầu hóa”.

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG CHUNG CHIẾN HÀO CHỐNG MỸ (1954-1975)

PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Đông Dương là vùng đất và không gian địa lý thống nhất trong đa dạng, nơi đây có ba dân tộc cùng tồn tại giao hòa, “tối lửa tắt đèn” có nhau. Trải qua năm tháng gian khổ chèo chống chinh phục thiên nhiên, đấu tranh sinh tồn, bảo vệ đất nước, tình hữu nghị giữa ba dân tộc Việt, Lào, Campuchia anh em không chỉ có từ rất sớm, mà còn hết sức bền chặt. Trên nền tảng đó, những năm kháng chiến chống Mỹ, quan hệ liên minh chiến đấu giữa lực lượng vũ trang ba nước tiếp tục được bồi đắp và phát triển, viết nên trang sử mới. Trên những chặng đường chông gai thấm đẫm mồ hôi, xương máu, Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hội tụ và phát huy sức mạnh, kề vai, sát cánh với lực lượng vũ trang hai nước anh em chiến đấu cho độc lập, hòa bình.

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ VÀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

PGS.TS Hồ Khang [*]
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống chung dòng nước Mê Kông, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, hai dân tộc Việt Nam và Lào phải tiến hành hàng chục cuộc đấu tranh chống lại các thế lực ngoại bang, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Và trong cuộc trường chinh gian khổ đó, hai dân tộc đã giúp đỡ lẫn nhau, cùng chung chiến hào chiến đấu chống kẻ thù chung, hình thành nên truyền thống liên minh bền chặt; trở nênđặc biệt và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng hai nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM SÁT CÁNH VỚI NHÂN DÂN LÀO ANH EM TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ

PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Là những nước có chung đường biên giới, có vị trị địa lý kề cận, có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam, Lào sớm có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt. Tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Lào không chỉ có từ rất sớm, mà còn khá bền chặt. Trong những năm tháng đấu tranh vì sự nghiệp độc lập, tự do và xây dựng đất nước, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam luôn trước sau thủy chung kề vai, sát cánh cùng nhân dân Lào vững bước vượt qua mọi thách thức, khó khăn, góp phần củng cố và phát triển vững chắc tình hữu nghị giữa hai dân tộc anh em.

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

CÁC NƯỚC LỚN VỚI HỘI NGHỊ GENÈVE (1954)

PGS,TS. Hồ Khang
Những năm 1950-1954, nền chính trị toàn cầu diễn ra những thay đổi đòi hỏi những thực thể của nó phải có chiến lược thích ứng. Sau một chặng đường “ngụp lặn” trong cuộc Chiến tranh Lạnh, các quốc gia của hai cực Đông – Tây đều nghiêng về một xu hướng mới – xu hướng hòa hoãn. Vấn đề đặt ra đối với các nước lớn là cần phải giảm thiểu căng thẳng trong tình hình thế giới, giải quyết các xung đột ở các khu vực khác nhau trên thế giới, trong đó có châu Á.
1- Trong tình hình đó, ngày 28-9-1953, Liên Xô kêu gọi các nước có liên quan tổ chức một hội nghị quốc tế, xem xét, đề xuất các biện pháp giảm thiểu căng thẳng trong tình hình thế giới, giải quyết vấn đề chiến tranh – hòa bình ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. 

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

VÀI NÉT VỀ MẶT TRẬN GIAO THÔNG VẬN TẢI THỜI KỲ ĐẦU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI (1964-1967)

HỒ KHANG[*]
         Những năm cả nước đương đầu trực tiếp với lục quân, không quân, hải quân Mỹ, giao thông vận tải là một mặt trận, mà ở đó, cuộc đọ sức, đọ lực, đọ ý chí và trí tuệ giữa quân dân hậu phương miền Bắc với vũ khí, sắt thép và bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt. Bài viết này tập trung trình bày công tác đảm bảo giao thông thời kỳ đầu chiến tranh phá hoại, khi công tác này trở thành nhiệm vụ trọng tâm của quân và dân miền Bắc trong những ngày đánh Mỹ.